Phục vụ buổi làm việc của Thủ tướng Chính phủ với các địa phương dự kiến trong tuần từ 11/5 đến 17/5/2026
Hà Nội, ngày 04 tháng 5 năm 2026
Bảy địa phương được lựa chọn cho buổi làm việc của Thủ tướng Chính phủ đại diện ba nhóm cực tăng trưởng chính của cả nước: nhóm đầu tàu công nghiệp – dịch vụ phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), nhóm động lực Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh sau hợp nhất với Long An), và cực nông nghiệp – kinh tế biển Tây Nam Bộ (An Giang sau hợp nhất với Kiên Giang). Cả 07 địa phương cộng lại chiếm khoảng 41% dân số và trên 50% GRDP cả nước; do đó nhịp độ điều hành quý II/2026 tại đây sẽ quyết định khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm từ 10% trở lên theo Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026–2030 của Quốc hội khóa XVI.
Quý I/2026, GDP cả nước tăng 7,83% (cao hơn cùng kỳ 7,07% nhưng thấp hơn kịch bản 9,1% theo Nghị quyết 01/NQ-CP và 8% theo Nghị quyết 23/NQ-CP). Trong nhóm 07 địa phương, Hải Phòng dẫn đầu với GRDP tăng 11,21% (đứng đầu 06 thành phố trực thuộc Trung ương), Đồng Nai (sau hợp nhất với Bình Phước) tăng 9,76% (cao nhất khu vực phía Nam), Tây Ninh (sau hợp nhất với Long An) tăng 9,51%, Quảng Ninh chỉ đạt 9,81% theo Cục Thống kê (thấp hơn 2,27 điểm phần trăm so với kịch bản 12,08%), Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,27%, Hà Nội tăng 7,87%. Đáng chú ý, không địa phương nào trong 07 tỉnh, thành phố đạt mục tiêu tăng trưởng "hai con số" mà Trung ương giao trong quý I; áp lực dồn về 03 quý còn lại là rất lớn.
Nhận định: điểm chung lớn nhất giữa 07 địa phương là 04 nút thắt: (i) giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư cho các dự án trọng điểm chậm so với yêu cầu; (ii) giải ngân vốn đầu tư công khởi sắc về số tuyệt đối nhưng chưa đạt nhịp độ kịch bản đề ra, đặc biệt nhóm vốn ODA và đường sắt đô thị; (iii) hệ thống tổ chức bộ máy sau sắp xếp đơn vị hành chính còn nhiều "khoảng trống vận hành" về thẩm quyền, con dấu, tài khoản ngân sách giữa cấp tỉnh và cấp xã, phường; (iv) cơ chế hợp đồng trọn gói và đơn giá cố định trong điều kiện biến động giá nguyên, nhiên, vật liệu chưa có hướng xử lý linh hoạt. Khác biệt đáng chú ý là mỗi địa phương có thêm một nhóm vướng mắc đặc thù: Hà Nội với Luật Thủ đô (sửa đổi) chưa hiệu lực; Thành phố Hồ Chí Minh với 159 điểm ngập và 738/838 dự án tồn đọng; Hải Phòng với áp lực cảng Nam Đồ Sơn để gỡ thế chật của Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải; Đồng Nai với tiến độ sân bay Long Thành và 03 khu công nghiệp 3.000 ha; Quảng Ninh với đất đá thải mỏ và lao động phổ thông; Tây Ninh với Nhà máy nhiệt điện LNG Long An I, II và cao tốc TP.HCM – Mộc Bài; An Giang với liên kết tiêu thụ lúa gạo và biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long.
Hà Nội thuộc nhóm 11 đơn vị hành chính cấp tỉnh không thực hiện sáp nhập theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 và Nghị quyết số 202/2025/QH15. Quý I/2026, GRDP Thủ đô ước tăng 7,87%, cao hơn cùng kỳ năm 2025 nhưng thấp hơn các đầu tàu Hải Phòng, Đồng Nai, Tây Ninh; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 226.400 tỷ đồng, tương đương 34,8% dự toán, dẫn đầu cả nước về quy mô. Tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt trên 102.259 tỷ đồng (+10,09%); vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 20.944 tỷ đồng (+47,45%), chiếm 18,3% tổng nguồn vốn địa phương cả nước.
Khối lượng vốn đầu tư công năm 2026 của Hà Nội đặc biệt lớn: kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao gần 126.000 tỷ đồng, Thành phố chủ động giao bổ sung lên khoảng 156.000 tỷ đồng, gấp xấp xỉ 1,5 lần năm 2025. Đến ngày 23/4/2026, Hà Nội đã giải ngân khoảng 31.000 tỷ đồng, đạt 25,7% kế hoạch Thủ tướng giao (không tính phần dự nguồn cho dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng), cao hơn bình quân cả nước 12,6% nhưng vẫn thấp hơn lộ trình Thành phố tự đặt ra (Q1 phải đạt 26%). Mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch trước ngày 30/9/2026 và GRDP cả năm tăng 11% phụ thuộc rất lớn vào nhịp giải ngân quý II và quý III.
Khó khăn, vướng mắc nổi bật:
(i) Giải phóng mặt bằng các dự án giao thông trọng điểm còn rất chậm. Các cầu lớn qua sông Hồng (Tứ Liên, Ngọc Hồi, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát), tuyến Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu – Voi Phục, Vành đai 2,5 và 3,5, đường Tam Trinh, các trục giao thông hướng tâm đều bị chậm do thiếu quỹ đất tái định cư, khó xác định nguồn gốc đất sử dụng từ trước Luật Đất đai 2024, và biến động chính sách bồi thường giữa các xã, phường sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
(ii) Vốn ODA và đường sắt đô thị đến đầu tháng 3 mới giải ngân 2,57% trên kế hoạch hơn 19.000 tỷ đồng do vướng thủ tục hiệp định vay với nhà tài trợ và hợp đồng với nhà thầu nước ngoài; nhiều dự án phải tạm dừng rà soát do chồng lấn quy hoạch hoặc chờ cơ quan cấp trên thẩm tra, thẩm định.
(iii) Vướng mắc hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định. Trong điều kiện giá xăng dầu, sắt thép, cát sỏi, vật liệu xây dựng tăng mạnh do tác động của xung đột tại Trung Đông, các nhà thầu thi công cầm chừng. Chủ đầu tư và Sở chuyên ngành kiến nghị sớm sửa đổi Nghị định số 37/2015/NĐ-CP theo hướng cho phép áp dụng cơ chế xử lý phù hợp đối với các dự án chậm triển khai do nguyên nhân khách quan.
(iv) Xuất khẩu suy giảm do cơ cấu kinh tế. Hà Nội nghiêng về dịch vụ (chiếm trên 70% GRDP), trong khi công nghiệp chế biến chế tạo chưa đủ lớn để tạo đột phá về xuất khẩu trong bối cảnh thị trường quốc tế thu hẹp.
(v) Luật Thủ đô (sửa đổi) phải đến ngày 01/7/2026 mới có hiệu lực. Khoảng trống pháp lý này khiến nhiều cơ chế đặc thù về phân cấp, ủy quyền, xử lý các dự án chậm tiến độ chưa thể vận dụng trong nửa đầu năm.
Sau khi tiếp nhận toàn bộ Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị đặc biệt với diện tích 6.772,59 km², dân số trên 14 triệu người. Quý I/2026, GRDP tăng 8,27% (mức cao nhất 5 năm gần đây), tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,7%, thu ngân sách đạt 30,2% dự toán Trung ương giao (+17,5%), thu hút FDI gần 2,9 tỷ USD, xuất khẩu trên 22 tỷ USD. Tuy vậy, mức tăng trưởng quý I vẫn dưới mục tiêu năm "10% trở lên" mà Thành ủy đề ra; theo tính toán của Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố, các quý còn lại phải đạt nhịp độ trên 11,5% mới về đích cả năm.
Kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 của Thành phố là 147.599 tỷ đồng, chiếm khoảng 15,1% tổng kế hoạch cả nước. Đến hết quý I, Thành phố giải ngân 13.511 tỷ đồng (đạt 9,2%); đến ngày 21/4/2026 đạt 15.077 tỷ đồng (10,2%). Mức này cao hơn cùng kỳ năm 2025 nhưng thấp hơn nhiều so với yêu cầu điều hành (cần khoảng 30.000 tỷ đồng trong quý I để bảo đảm nhịp độ).
Khó khăn, vướng mắc nổi bật:
(i) Tổ chức bộ máy sau sắp xếp đơn vị hành chính chưa đồng bộ. Việc thành lập Ban Quản lý dự án cấp xã phát sinh hàng loạt vướng mắc về tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản ngân sách, gây tạm ngưng nhiều dự án trong tháng 3 và đầu tháng 4. Phó Chủ tịch UBND Thành phố Bùi Xuân Cường thừa nhận giai đoạn chững lại trong tháng 3 và 4 chủ yếu do kiện toàn bộ máy chứ không phải do thiếu vốn.
(ii) Bồi thường, giải phóng mặt bằng đang là khâu trọng yếu nhất. Toàn Thành phố có 166 dự án thực hiện bồi thường với tổng vốn trên 35.000 tỷ đồng, mới giải ngân 23,03%; phần vốn chưa giải ngân chiếm 76,97%. Các quy định mới theo Luật Đất đai năm 2024 và các nghị định hướng dẫn vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, một số nội dung chưa đồng bộ giữa các xã, phường mới hình thành.
(iii) Khoảng 738/838 dự án tồn đọng đang được tập trung tháo gỡ. Trong đó có các siêu dự án Metro số 2, cầu Phú Mỹ 2, Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (vốn dự kiến 128.872 tỷ đồng), Cảng tổng hợp container Cái Mép Hạ (50.800 tỷ đồng), tuyến đường sắt Bến Thành – Thủ Thiêm (46.300 tỷ đồng), cao tốc đô thị Hồ Tràm – Cảng hàng không quốc tế Long Thành (44.600 tỷ đồng). Mục tiêu của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Thành phố là hoàn thành rà soát từng dự án trong quý II/2026 và xử lý dứt điểm trong năm 2026.
(iv) Chống ngập đô thị áp lực rất lớn. Toàn Thành phố hiện có 159 điểm ngập, trong đó 57 điểm ngập nặng (mức ngập từ 30 cm trở lên, kéo dài trên 1,5 giờ). Năm 2026, Thành phố đặt mục tiêu hoàn thành 20 dự án xử lý 45 điểm ngập, bao gồm 16 điểm ngập nặng; đến cuối năm 2027 dự kiến xử lý dứt điểm 40/57 điểm ngập nặng.
(v) Hệ thống cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 31-NQ/TW và Nghị quyết Quốc hội về cơ chế đặc thù cho Thành phố Hồ Chí Minh đang được tổng kết, sửa đổi. Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cần được khẩn trương xây dựng để tạo khuôn khổ pháp lý vận hành đô thị quy mô 14 triệu dân.
Sau hợp nhất với tỉnh Hải Dương, thành phố Hải Phòng có diện tích 3.194,72 km², dân số 4,66 triệu người, là đô thị có mức tăng trưởng GRDP quý I/2026 cao nhất trong 06 thành phố trực thuộc Trung ương (11,21%, đóng góp 7,89% vào tăng trưởng GRDP cả nước). Khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 12,79% (chế biến, chế tạo +14,45–15,98%), khu vực dịch vụ tăng 10,46%, khu vực nông – lâm – thủy sản tăng 3,27%. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt 42,8 triệu tấn (+11,1%); xuất khẩu 12,1 tỷ USD (+7,8%); thu hút FDI gần 1 tỷ USD trong quý I (đạt một phần tư kế hoạch năm); thu ngân sách đạt 58.460 tỷ đồng (30% dự toán). Thành phố đã được phê duyệt thành lập Khu kinh tế chuyên biệt quy mô khoảng 5.300 ha và đang triển khai Nghị quyết số 226/2025/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Hải Phòng.
Khó khăn, vướng mắc nổi bật:
(i) Tăng trưởng quý I 11,21% chưa đạt kịch bản 12% và còn cách xa mục tiêu năm 13%. Để hoàn thành chỉ tiêu năm, quý II phải tăng 13,54%, các quý III và IV đều phải duy trì trên 13%. Khu vực công nghiệp quý II cần tăng 17,15% (riêng chế biến, chế tạo cần lực đẩy mạnh hơn từ điện tử, đóng tàu, sản xuất phương tiện vận tải), khu vực dịch vụ cần tăng 11,2%.
(ii) 9/31 dự án trọng điểm chậm tiến độ. Công tác giải phóng mặt bằng tại một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa hoàn thành theo kế hoạch. Đầu tư công quý I đạt 8.313 tỷ đồng (21,4% kế hoạch); mục tiêu quý II phấn đấu giải ngân tối thiểu 40%.
(iii) Cảng Nam Đồ Sơn cấp bách. Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải đang dần hết dư địa, hạ tầng giao thông kết nối ngày càng quá tải. Việc khẩn trương khởi công Cảng Nam Đồ Sơn để mở rộng dư địa công nghiệp – logistics – vận tải biển và phát triển hạ tầng sau cảng là yêu cầu mà Bí thư Thành ủy đã nhấn mạnh là "cấp bách cho tương lai phát triển".
(iv) Doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Trung Đông bị ảnh hưởng nặng. Khảo sát của Ban Quản lý Khu Kinh tế Hải Phòng cho biết có 15 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu kinh tế bị hoãn hoặc không xuất khẩu được do chiến sự Trung Đông, tập trung ở các ngành sơn, nhựa, lõi lọc dầu. Ở cấp tổng thể, đánh giá từ 402 doanh nghiệp công nghiệp cho thấy nhóm tăng trưởng âm chiếm tới 41%.
(v) Huy động 2,4 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội cho giai đoạn 2026–2030 (trong đó khu vực ngoài nhà nước và FDI chiếm gần 90%). Thành phố cam kết cắt giảm 50% thời gian giải quyết và 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính so với năm 2025; đề xuất miễn, giảm phí hạ tầng cảng biển, giãn nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất.
Sau hợp nhất với tỉnh Bình Phước, Đồng Nai có diện tích 12.737 km², dân số gần 4,5 triệu người. GRDP quý I/2026 ước tăng 9,76% so với cùng kỳ (giá so sánh 2020), đứng thứ 7 cả nước và cao nhất khu vực phía Nam. Khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 11,78%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 13,66% (sản xuất và phân phối điện +51,06%); tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 17,58%; thu ngân sách quý I đạt khoảng 31.000 tỷ đồng. Vốn đầu tư trong nước đạt trên 15.500 tỷ đồng, FDI 757 triệu USD; gần 1.900 doanh nghiệp thành lập mới với vốn đăng ký trên 12.300 tỷ đồng. Đồng Nai thu hút khoảng 1,4 tỷ USD tổng vốn đầu tư trong quý I, trong đó có Jabil Circuit (Singapore, 80 triệu USD) và Sembcorp Integrated Hub Đồng Nai I (gần 70 triệu USD).
Khó khăn, vướng mắc nổi bật:
(i) Sân bay Long Thành đối mặt rủi ro trễ tiến độ thương mại. Theo báo cáo của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) gửi Chính phủ tháng 4/2026, mục tiêu khai thác kỹ thuật vào tháng 9/2026 và khai thác thương mại trong quý IV/2026 là khả thi nhưng phải tháo gỡ "báo động đỏ" về 03 yếu tố: nhân lực thi công (đến 14/4 mới huy động 8.457/14.000 lao động, đạt 60%); nhiên liệu (xăng dầu tăng giá kéo theo chi phí ca máy); và nguyên vật liệu (đá, cát, thép khan hiếm, giá cao do nhiều dự án trọng điểm tại Đồng Nai và khu vực triển khai đồng thời). Phó Thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc đã có thông báo kết luận tại cuộc họp ngày 21/4/2026; Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chủ trì cuộc họp tháo gỡ vướng mắc dự án sân bay Long Thành ngày 04/5/2026 để chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ, kết hợp xử lý sai phạm theo kết luận thanh tra.
(ii) 03 khu công nghiệp 3.000 ha quanh sân bay Long Thành chậm khởi công. Khu công nghiệp Xuân Quế – Sông Nhạn còn khoảng 30 ha đang xác định nguồn gốc và xây dựng phương án bồi thường; Khu công nghiệp Bàu Cạn – Tân Hiệp còn khoảng 40 ha công khai phương án bồi thường và 35 ha hoàn thiện hồ sơ; Khu công nghiệp Long Đức 3 cơ bản hoàn tất giải phóng mặt bằng nhưng việc cưa cắt cây cao su mới đạt khoảng 60%. Mục tiêu khởi công đồng loạt vào ngày 09/5/2026 đang được tỉnh dồn lực bảo đảm.
(iii) Đường 25B và 25C kết nối sân bay GPMB rất chậm. Đường 25C theo hợp đồng tháng 02/2026 phải hoàn thành nhưng đến nay nhà thầu chỉ thi công cấu kiện đúc sẵn vì chưa có mặt bằng. Đường Vành đai 3 – TP.HCM gói thầu 26 tiến độ rất chậm, còn 2 vị trí trụ điện chưa di dời. Mở rộng đường cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây, cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, Bến Lức – Long Thành đang đẩy nhanh nhưng phụ thuộc bàn giao mặt bằng cuối cùng.
(iv) Hàng loạt dự án khu công nghiệp tồn đọng cần chỉ đạo dứt điểm. Bao gồm các dự án của Tổng Công ty Cổ phần phát triển khu công nghiệp (Sonadezi): Khu công nghiệp Long Thành, Khu dân cư Tam An 1, Khu công nghiệp Thạnh Phú, Khu công nghiệp Giang Điền, Khu công nghiệp Biên Hòa 1 (vướng truy thu tiền thuê đất và khởi kiện). UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 5510/UBND-KTNS giao xử lý từng dự án và yêu cầu báo cáo trước ngày 30/4/2026.
(v) Tỉnh đề xuất 06 dự án kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm và đề nghị Trung ương hỗ trợ nguồn lực, phân cấp cho tỉnh làm chủ đầu tư, ưu tiên tuyến đường kết nối hai tỉnh lỵ cũ và các tuyến ra cửa khẩu (trong đó có cửa khẩu quốc tế Tân Nam vừa khai trương). Đề án Khu thương mại tự do và đô thị sân bay Long Thành cần khẩn trương hoàn thiện theo kết luận của Tổng Bí thư khi làm việc tại Đồng Nai tháng 11/2025.
Quảng Ninh là một trong 11 tỉnh không thực hiện sáp nhập (diện tích 6.207,95 km², dân số 1,5 triệu người), được Quốc hội giao chỉ tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 là 13% (cao nhất nhóm tỉnh). Quý I/2026, theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GRDP của Quảng Ninh chỉ tăng 9,81%, đứng thứ 6 cả nước, thấp hơn 2,27 điểm phần trăm so với kịch bản quý I 12,08%. Số liệu của UBND tỉnh ước GRDP tăng 12,08–12,10% (cơ bản đạt kịch bản); chênh lệch giữa hai nguồn cần được thống nhất khi Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chính thức. Sản lượng than đạt 10,73 triệu tấn (vượt kịch bản 6,51%); điện sản xuất đạt 9,77 tỷ kWh (vượt kịch bản 13,01%); du lịch đón 6,28 triệu lượt khách, doanh thu 15.687 tỷ đồng (vượt kịch bản 5%); thu ngân sách 18.706 tỷ đồng (101% kịch bản); FDI khoảng 215 triệu USD; vốn ngoài ngân sách trên 77.900 tỷ đồng; thành lập mới 943 doanh nghiệp.
Khó khăn, vướng mắc nổi bật:
(i) Vướng mắc về sử dụng đất đá thải mỏ làm vật liệu san lấp. Đây là điểm nghẽn dài hạn ảnh hưởng nguồn cung vật liệu cho nhiều dự án hạ tầng trọng điểm trên địa bàn và vùng đồng bằng sông Hồng; tỉnh đã kiến nghị Trung ương có giải pháp tổng thể.
(ii) Tiến độ giải phóng mặt bằng tại một số dự án trọng điểm còn chậm. Đầu tư công quý I đạt 4.086 tỷ đồng (21% kế hoạch 19.493 tỷ đồng); tỷ lệ giải ngân chi thường xuyên cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa cao.
(iii) Thị trường lao động mất cân đối cung – cầu, đặc biệt thiếu hụt lao động phổ thông cho các khu công nghiệp. Đây là rủi ro lớn khi tỉnh đặt mục tiêu đưa ít nhất 10 dự án mới trong các khu kinh tế, khu công nghiệp đi vào sản xuất trong năm 2026.
(iv) Thủ tục thông quan hàng hóa tại cửa khẩu Móng Cái – Đông Hưng cần tiếp tục cải thiện để duy trì tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu (riêng nhóm máy móc, linh kiện điện tử quý I tăng 339,27%); tỉnh đang triển khai mô hình "cửa khẩu thông minh".
(v) Du lịch tăng trưởng tốt nhưng cần đa dạng hóa và nâng đẳng cấp. Tỉnh xác định khai thác hiệu quả Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà và quần thể Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc; chuẩn bị Tuần Văn hóa, Thể thao và Du lịch hè 2026 dự kiến đón khoảng 1,3 triệu lượt khách; tổ chức ít nhất một sự kiện nghệ thuật quy mô quốc tế. Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh được xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu.
Sau hợp nhất, Tây Ninh có diện tích 8.536,44 km², dân số trên 3,25 triệu người, 96 đơn vị hành chính cấp xã (trong đó có 20 xã biên giới với Campuchia), 4 cửa khẩu quốc tế (Xa Mát, Mộc Bài, Tân Nam, Bình Hiệp), 01 cảng quốc tế (Cảng quốc tế Long An), được quy hoạch 59 khu công nghiệp với 16.800 ha và 03 khu kinh tế cửa khẩu với trên 68.500 ha. Quý I/2026, GRDP tăng 9,51%, đứng thứ 2 khu vực phía Nam và thứ 10 cả nước, thấp hơn 0,08 điểm phần trăm so với kịch bản. Năm 2025, tăng trưởng kinh tế đạt 9,52%, quy mô nền kinh tế đứng thứ 10 cả nước; thu ngân sách trên 52.000 tỷ đồng (+40% so với dự toán Trung ương giao). Tây Ninh giữ nguyên kịch bản tăng trưởng quý II 9,98%, quý III 9,92%, quý IV 10,02%, đưa cả năm lên 10–10,5%.
Khó khăn, vướng mắc nổi bật:
(i) Đầu tư công giải ngân chậm nhất nhóm 07 địa phương. Tổng kế hoạch vốn năm 2026 là 29.814 tỷ đồng; đến hết tháng 3 mới đạt hơn 6% kế hoạch. Đây là điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ để tạo lực đẩy cho 03 quý còn lại.
(ii) Dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Long An I và Long An II vướng mắc. Thủ tướng Chính phủ đã giao Phó Thủ tướng họp với các bên liên quan trên tinh thần "tuân thủ quy định, lợi ích hài hoà, rủi ro chia sẻ, cạnh tranh lành mạnh, công bằng", hoàn thành xử lý trong tháng 12/2025 nhưng đến nay chưa khởi công, ảnh hưởng nguồn cung điện cho khu vực Đông Nam Bộ.
(iii) Hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng cần được đẩy nhanh. Vành đai 3 – TP.HCM và Vành đai 4 – TP.HCM đoạn qua tỉnh, cao tốc TP.HCM – Mộc Bài, cao tốc Gò Dầu – Xa Mát, tuyến đường kết nối hai tỉnh lỵ cũ Long An – Tây Ninh, các tuyến ra cửa khẩu (đặc biệt cửa khẩu quốc tế Tân Nam vừa khai trương) đều đang vào giai đoạn cần dồn lực giải phóng mặt bằng và bố trí vốn.
(iv) Sau hợp nhất, không gian phát triển mở rộng nhưng tổ chức thực thi chưa đồng đều. Cơ cấu kinh tế hai địa phương cũ tương đồng (công nghiệp tỷ trọng lớn) nhưng năng lực hấp thụ chính sách và mức độ phát triển hạ tầng chênh lệch giữa khu vực Đức Hòa – Bến Lức (Long An cũ) và Trảng Bàng – Phước Đông (Tây Ninh cũ).
(v) Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn 2050 cần được điều chỉnh sau hợp nhất và hoàn thành chậm nhất trong tháng 01/2026 theo yêu cầu của Thủ tướng tại buổi làm việc tháng 12/2025; định vị tỉnh là cực tăng trưởng mới đối trọng với Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là cửa ngõ thương mại biên giới phía Nam.
Sau hợp nhất, An Giang là đơn vị hành chính cấp tỉnh có diện tích lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long (9.888,91 km²), dân số 4,95 triệu người, 102 đơn vị hành chính cấp xã (85 xã, 14 phường, 03 đặc khu trong đó có Phú Quốc), trung tâm hành chính đặt tại thành phố Rạch Giá. Tỉnh có ba trụ cột chiến lược: kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển, kinh tế du lịch.
Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế Q1/2026:
Khu vực nông – lâm – thủy sản giữ vai trò "bệ đỡ": diện tích lúa Đông Xuân 2025–2026 xuống giống 503.563 ha (đạt 99,58% kế hoạch); năng suất bình quân 7,8 tấn/ha (+2,45% so với kế hoạch); sản lượng vụ Đông Xuân ước trên 3 triệu tấn. Năm 2025, toàn tỉnh đạt diện tích lúa 1,3 triệu ha với sản lượng gần 8,8 triệu tấn (vựa lúa lớn nhất cả nước, chiếm gần 20% sản lượng).
Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp" đã triển khai trên 150.151 ha trong năm 2025 (104% kế hoạch); năm 2026 đặt mục tiêu mở rộng lên 183.000 ha, thu hút trên 50.000 hộ nông dân tham gia, giảm trên 10% phát thải khí nhà kính, thu gom tái sử dụng 70% rơm rạ.
Du lịch đột phá: Q1/2026 đón hơn 8,2 triệu lượt khách (33% kế hoạch năm), trong đó trên 829.400 lượt khách quốc tế (+70%); tổng thu từ du lịch đạt 21.432 tỷ đồng (+52,6%). Tỉnh đặt mục tiêu năm 2026 đón 25 triệu lượt khách (trong đó 2,1 triệu lượt khách quốc tế); đến cuối năm 2025 toàn tỉnh có hơn 320 dự án du lịch với tổng vốn trên 402.200 tỷ đồng.
Khó khăn, vướng mắc nổi bật:
(i) Nghịch lý ngành lúa gạo: giá đã ấm lên nhưng nông dân và doanh nghiệp vẫn "mỏi mắt chờ lãi". Chi phí đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, năng lượng) tăng nhanh; liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp chưa bền vững; tiêu thụ nông sản phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp xuất khẩu lớn. Mục tiêu giảm 20% lượng giống, phân bón, thuốc, nước tưới và đạt cơ giới hóa trên 40% trong năm 2026 là rất thách thức trong điều kiện chi phí biến động.
(ii) Biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn ngày càng phức tạp ảnh hưởng vụ Hè Thu 2026 (mục tiêu khu vực I tăng 3,98%); cần vận hành linh hoạt hệ thống thủy lợi, đê bao, kiểm soát mặn mùa khô.
(iii) Phú Quốc là trung tâm du lịch quốc gia chuẩn bị APEC 2027 đặt áp lực hạ tầng rất lớn: nâng cấp dịch vụ MICE, golf, chăm sóc sức khỏe, ẩm thực; đáp ứng nhu cầu phân khúc khách cao cấp; nâng cao năng lực ngoại ngữ nguồn nhân lực; bảo tồn giá trị văn hóa, giảm rác thải nhựa.
(iv) Đề án phát triển An Giang trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia phải hoàn thành trình Thủ tướng Chính phủ trong quý I/2026. Tỉnh đang dốc toàn lực hoàn thiện đề án bảo đảm tính khoa học, khả thi, sát thực tiễn.
(v) Sau hợp nhất, thủy sản và kinh tế biển cần chiến lược điều phối thống nhất. Sản lượng thủy sản hợp nhất ước đạt gần 1,63 triệu tấn (mục tiêu 2026), trong đó nuôi lồng bè biển tăng 54%, yến sào 38 tấn (+10%); cần liên kết Cảng quốc tế Long An (Tây Ninh mới) và đội tàu cá hơn 140.000 chiếc của Kiên Giang cũ trong chuỗi nuôi – khai thác – chế biến – logistics quy mô lớn.
So sánh nhịp độ tăng trưởng quý I/2026 và khoảng cách với kịch bản:
Địa phương | GRDP Q1/2026 (%) | Mục tiêu năm 2026 (%) | Khoảng cách so kịch bản Q1 | Kế hoạch vốn ĐTC 2026 (tỷ đồng) | Tỷ lệ giải ngân ĐTC đầu tháng 4 |
|---|---|---|---|---|---|
Hà Nội | 7,87 | 10,0–10,5 (Quốc hội); 11 (Thành phố) | Thấp hơn ~3 đp | ~126.000 (TTg) / ~156.000 (thành phố) | ~25,7% (đến 23/4) |
TP. Hồ Chí Minh | 8,27 | 10 | Thấp hơn ~2 đp | 147.599 | ~10,2% (đến 21/4) |
Hải Phòng | 11,21 | 13–13,5 | Thấp hơn ~0,8 đp | (đang công bố cơ chế đặc thù) | ~21,4% Q1 |
Đồng Nai | 9,76 | (chỉ tiêu mới sau hợp nhất) | (cao nhất phía Nam) | – | – |
Quảng Ninh | 9,81 (CTK) / 12,08 (UBND) | 13 | Thấp hơn 2,27 đp (CTK) | 19.493 | ~21% Q1 |
Tây Ninh | 9,51 | 10–10,5 | Thấp hơn 0,08 đp | 29.814 | >6% (hết tháng 3) |
An Giang | (đang tổng hợp) | 8 (đến 2025) → 2 con số 2026–2030 | – | – | – |
Cả nước | 7,83 | ≥10 | Thấp hơn 1,27 đp | – | ~12,6% |
Nhận định liên vùng:
(i) Trục Bắc Bộ (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) đối mặt rủi ro chung từ giải ngân vốn ODA và đường sắt đô thị, biến động giá nguyên vật liệu, và áp lực hạ tầng cảng – sân bay – cửa khẩu. Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh và dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng cần được điều phối thống nhất.
(ii) Trục Đông Nam Bộ (TP.HCM – Đồng Nai – Tây Ninh) xoay quanh sự kiện trung tâm là việc đưa sân bay Long Thành vào khai thác thương mại quý IV/2026 và mạng cao tốc/vành đai kết nối. Mỗi trễ tiến độ tại Long Thành đều có hiệu ứng lan tỏa lên TP.HCM (cao tốc đô thị Hồ Tràm – Long Thành), Đồng Nai (vành đai 3, đường 25B/25C, các khu công nghiệp 3.000 ha) và Tây Ninh (cao tốc TP.HCM – Mộc Bài, Bến Lức – Long Thành đoạn qua Long An cũ).
(iii) Đồng bằng sông Cửu Long với cực An Giang chịu áp lực kép từ chi phí sản xuất tăng và biến đổi khí hậu; cần ưu tiên vốn IBRD cho hạ tầng và kỹ thuật vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp; gắn Đề án trung tâm kinh tế biển quốc gia với chuẩn bị APEC 2027 tại Phú Quốc.
(iv) Vướng mắc xuyên 07 địa phương sau sáp nhập đơn vị hành chính: mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tổ chức Ban Quản lý dự án cấp xã, bàn giao hồ sơ – con dấu – tài khoản – chủ đầu tư, đồng bộ chính sách bồi thường giữa các xã, phường mới hình thành, điều chỉnh quy hoạch tỉnh sau hợp nhất.
STT | Vấn đề rủi ro | Địa phương ảnh hưởng | Mức độ rủi ro | Tác động đến mục tiêu tăng trưởng | Ưu tiên xử lý |
|---|---|---|---|---|---|
1 | Sân bay Long Thành trễ khai thác thương mại Q4/2026 do thiếu nhân lực, nhiên liệu, vật liệu | Đồng Nai (trực tiếp), TP.HCM, Tây Ninh, cả nước | CAO | Mất "cú hích" hạ tầng quốc gia; ảnh hưởng FDI và logistics cả vùng | Khẩn cấp (Thủ tướng đã chủ trì họp 04/5) |
2 | Vốn ODA và đường sắt đô thị giải ngân 2,57% (Hà Nội) | Hà Nội (trực tiếp); lan tỏa các tuyến liên vùng | CAO | Khó đạt giải ngân 100% trước 30/9; ảnh hưởng GRDP 11% | Cao – cần Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng phối hợp |
3 | 738/838 dự án tồn đọng và 159 điểm ngập tại TP.HCM | TP.HCM | CAO | Trực tiếp ảnh hưởng mục tiêu tăng trưởng 10% và đời sống dân sinh | Cao – Ban Chỉ đạo PCTN-LP-TC TP đang vào cuộc |
4 | 9/31 dự án trọng điểm Hải Phòng chậm; cảng Nam Đồ Sơn cấp bách | Hải Phòng | CAO | Khó đạt mục tiêu năm 13%; KKT Đình Vũ – Cát Hải sắp hết dư địa | Cao – đã có Nghị quyết 226/2025/QH15 |
5 | Đầu tư công Tây Ninh giải ngân hết tháng 3 chỉ >6% | Tây Ninh | CAO | Có nguy cơ là điểm nghẽn nặng nhất nhóm 07 địa phương | Cao – cần ban chỉ đạo cấp tỉnh kích hoạt |
6 | Vướng mắc Nhà máy nhiệt điện LNG Long An I, II | Tây Ninh; cả vùng Đông Nam Bộ | TRUNG BÌNH – CAO | An ninh năng lượng vùng; tiến độ chậm hơn yêu cầu của Thủ tướng (12/2025) | Cao – Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn được giao |
7 | Số liệu GRDP Quảng Ninh chênh lệch giữa Cục Thống kê (9,81%) và UBND tỉnh (12,08%) | Quảng Ninh | TRUNG BÌNH | Ảnh hưởng đánh giá thực chất khoảng cách kịch bản; định hướng điều hành quý II | Trung bình – cần Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chính thức |
8 | GPMB đường 25B, 25C, vành đai 3 tại Đồng Nai chậm | Đồng Nai | CAO | Ảnh hưởng kết nối sân bay Long Thành | Khẩn cấp |
9 | 41% doanh nghiệp công nghiệp Hải Phòng tăng trưởng âm; 15 DN xuất khẩu Trung Đông | Hải Phòng (lan tỏa cả nước) | TRUNG BÌNH – CAO | Đe dọa kim ngạch xuất khẩu cả nước | Trung bình – cần hỗ trợ thị trường |
10 | Nghịch lý lúa gạo An Giang: giá ấm nhưng nông dân, DN chưa có lãi | An Giang (toàn ĐBSCL) | TRUNG BÌNH – CAO | Ảnh hưởng thu nhập 50.000+ hộ nông dân; an ninh lương thực | Cao – cần dự án vốn IBRD đẩy nhanh |
11 | Tổ chức Ban QLDA cấp xã, pháp lý/con dấu/tài khoản tại địa phương sau sáp nhập | TP.HCM, Hải Phòng, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang | CAO | Tạm dừng giải ngân tháng 3, 4; vận hành chậm | Cao – cần hướng dẫn thống nhất |
12 | Thiếu lao động phổ thông KCN; biến động giá xăng dầu, vật liệu xây dựng | Cả 07 địa phương | TRUNG BÌNH – CAO | Đẩy chi phí sản xuất, làm cạn dư địa lợi nhuận | Trung bình |
STT | Văn bản | Cơ quan ban hành | Ngày | Nội dung trọng yếu |
|---|---|---|---|---|
1 | Nghị quyết số 60-NQ/TW | Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Hội nghị lần 11) | 12/4/2025 | Sắp xếp 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh (28 tỉnh + 06 thành phố TƯ); khung pháp lý cho hợp nhất 7 địa phương |
2 | Nghị quyết số 202/2025/QH15 | Quốc hội khóa XV | 12/6/2025 | Chính thức công bố 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh; trung tâm hành chính – chính trị từng tỉnh mới |
3 | Nghị quyết số 1682/NQ-UBTVQH15 | Ủy ban Thường vụ Quốc hội | 16/6/2025 | Sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã chi tiết tới từng tỉnh; quy đổi tên xã, phường |
4 | Nghị quyết số 226/2025/QH15 | Quốc hội khóa XV | 2025 (kỳ họp giữa năm) | Thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng (gồm Khu kinh tế chuyên biệt 5.300 ha) – ngày ban hành cụ thể cần đối chiếu công báo |
5 | Luật Thủ đô (sửa đổi) | Quốc hội | hiệu lực 01/7/2026 | Cơ sở pháp lý mới cho phân cấp, ủy quyền, xử lý dự án chậm tiến độ tại Hà Nội |
6 | Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2026 | Chính phủ | 2026 | Kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách 2026; mục tiêu GDP ≥10%; giao chỉ tiêu cho 28 địa phương trên 10% |
7 | Nghị quyết số 23/NQ-CP | Chính phủ | 2026 | Điều chỉnh kịch bản tăng trưởng (mục tiêu Q1 ~8%) |
8 | Chỉ thị số 16/CT-TTg | Thủ tướng Chính phủ | 23/4/2026 | Thúc đẩy phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; lấy kết quả giải ngân là thước đo người đứng đầu |
9 | Nghị định số 37/2015/NĐ-CP (đang sửa đổi) | Chính phủ | – | Hợp đồng trong hoạt động xây dựng; cần cơ chế xử lý hợp đồng trọn gói/đơn giá cố định khi giá biến động |
10 | Luật Đất đai năm 2024 và các nghị định hướng dẫn | Quốc hội/Chính phủ | – | Khung mới cho thu hồi đất, bồi thường, tái định cư – cần tiếp tục đồng bộ giữa các xã, phường mới |
11 | Kết luận số 77-KL/TW | Bộ Chính trị | 02/5/2024 | Chủ trương tháo gỡ vướng mắc các dự án tồn đọng (~2.981 dự án cả nước) |
12 | Nghị quyết số 170/2024/QH15 và Nghị quyết số 171/2024/QH15 | Quốc hội | 30/11/2024 | Tháo gỡ vướng mắc dự án và đất đai theo kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án |
13 | Nghị quyết số 258/QH15 | Quốc hội | – | Cơ chế đặc thù 10 công trình khẩn cấp Hà Nội (thoát nước trước mùa mưa 2026) |
14 | Chỉ thị số 54-CT/TW | Bộ Chính trị | 30/11/2025 | Tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác giám định tư pháp, định giá tài sản |
15 | Nghị quyết số 318/NQ-HĐND tỉnh Quảng Ninh | HĐND tỉnh Quảng Ninh | 16/12/2025 | Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2026 (mục tiêu trên 12,5%, sau điều chỉnh 13%) |
16 | Nghị quyết số 45/NQ-HĐND tỉnh Tây Ninh | HĐND tỉnh Tây Ninh | – | 19 chỉ tiêu KT-XH năm 2026 sau hợp nhất |
17 | Quyết định số 30/2025/QĐ-UBND tỉnh Đồng Nai | UBND tỉnh Đồng Nai | 29/8/2025 | Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm khi Nhà nước thu hồi đất |
18 | Công văn số 5510/UBND-KTNS, Công văn số 3026/UBND-KTNS | UBND tỉnh Đồng Nai | 03/2026, 04/2026 | Xử lý vướng mắc dự án Sonadezi, GPMB 03 KCN Long Đức 3, Bàu Cạn – Tân Hiệp, Xuân Quế – Sông Nhạn |
19 | Nghị quyết số 57, 59, 66, 68 của Bộ Chính trị | Bộ Chính trị | – | 04 trụ cột chiến lược: khoa học công nghệ – đổi mới sáng tạo – chuyển đổi số; phát triển kinh tế tư nhân; v.v. |
20 | Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL" | Thủ tướng Chính phủ phê duyệt | – | Khung triển khai cho An Giang (mục tiêu 183.000 ha năm 2026) |
Nhận định: hệ thống văn bản về cơ bản đã tạo khung pháp lý cho cả 07 địa phương vận hành sau sáp nhập. Hai khoảng trống còn lại đáng chú ý là: (i) thời điểm hiệu lực của Luật Thủ đô (sửa đổi) chậm so với yêu cầu giải ngân nửa đầu 2026; (ii) Nghị định số 37/2015/NĐ-CP sửa đổi chậm khi cả 7 địa phương đều đối mặt biến động giá vật liệu mạnh. Đây là hai văn bản cần được Trung ương ưu tiên đẩy nhanh.
Thúc tiến độ sửa đổi Nghị định số 37/2015/NĐ-CP theo hướng cho phép áp dụng cơ chế xử lý phù hợp đối với hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định trong trường hợp dự án chậm tiến độ do nguyên nhân khách quan (biến động lớn giá nguyên, nhiên, vật liệu; kéo dài giải phóng mặt bằng). Đây là kiến nghị chung của Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đồng Nai, Quảng Ninh.
Khẩn trương xây dựng Luật hợp nhất Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước, sửa đổi Luật Đấu thầu (đã được Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 khóa XVI); trước mắt cho phép cơ chế chỉ định thầu đối với gói tư vấn và xây lắp gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ.
Thành lập Tổ công tác liên ngành thúc đẩy tiến độ sân bay Long Thành với cơ chế họp hằng tuần, xử lý ngay tại công trường các vướng mắc về nhân lực, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, di dời hạ tầng kỹ thuật; gắn với mục tiêu khai thác kỹ thuật T9/2026 và khai thác thương mại Q4/2026 (tiếp nối các kết luận cuộc họp ngày 21/4 và 04/5/2026).
Hoàn thiện Đề án Khu thương mại tự do Đồng Nai và đô thị sân bay Long Thành theo kết luận của Tổng Bí thư khi làm việc tại Đồng Nai tháng 11/2025; đồng thời ban hành cơ chế đặc thù cho Đồng Nai sau hợp nhất với Bình Phước.
Xử lý dứt điểm vướng mắc Nhà máy nhiệt điện LNG Long An I và Long An II trong tháng 5–6/2026 (nhiệm vụ đã giao Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn từ tháng 12/2025); ưu tiên nguồn vốn cho cao tốc TP.HCM – Mộc Bài, Bến Lức – Long Thành đoạn còn lại, đường nối hai tỉnh lỵ cũ Long An – Tây Ninh.
Đẩy nhanh dự án hỗ trợ hạ tầng và kỹ thuật cho lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL sử dụng vốn vay IBRD của Ngân hàng Thế giới đang được Thường trực Chính phủ cho ý kiến; ưu tiên triển khai sớm tại An Giang (mục tiêu 183.000 ha năm 2026).
Cho phép Hà Nội vận dụng sớm các cơ chế của Luật Thủ đô (sửa đổi) trong các nội dung không đòi hỏi văn bản hướng dẫn của Chính phủ, kết hợp với cơ chế đặc thù của Nghị quyết số 258/QH15 cho 10 công trình khẩn cấp.
STT | Nội dung kiến nghị | Đầu mối thực hiện | Phối hợp | Thời hạn |
|---|---|---|---|---|
1 | Hà Nội phấn đấu giải ngân ≥50% kế hoạch vốn đầu tư công đến hết 30/6, hoàn thành 100% trước 30/9/2026; điều chuyển vốn từ dự án chậm sang dự án có khả năng giải ngân tốt | UBND TP. Hà Nội | Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng | 30/9/2026 |
2 | TP.HCM hoàn thành rà soát 738/838 dự án tồn đọng trong quý II/2026; xử lý dứt điểm trong năm 2026; xử lý 45 điểm ngập (16 điểm nặng) trong năm 2026 | UBND TP.HCM | Ban Chỉ đạo PCTN-LP-TC TP, Bộ Xây dựng | Quý II – cuối 2026 |
3 | Hải Phòng đạt tăng trưởng quý II 13,54%, giải ngân 40% vốn đầu tư công; khởi công các hạng mục Cảng Nam Đồ Sơn | UBND TP. Hải Phòng | Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính | 30/6/2026 |
4 | Đồng Nai khởi công đồng loạt 03 KCN (Long Đức 3, Bàu Cạn – Tân Hiệp, Xuân Quế – Sông Nhạn) ngày 09/5/2026; hoàn thành GPMB đường 25B, 25C trong tháng 5; thông xe kỹ thuật trong tháng 6/2026 | UBND tỉnh Đồng Nai | Bộ Xây dựng, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, ACV | 05–06/2026 |
5 | Quảng Ninh thống nhất số liệu GRDP Q1 với Cục Thống kê; hoàn thiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026–2030; xử lý vướng mắc đất đá thải mỏ | UBND tỉnh Quảng Ninh | Bộ Tài chính (Cục Thống kê), Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng | Quý II/2026 |
6 | Tây Ninh kích hoạt Tổ công tác đặc biệt thúc đẩy giải ngân đầu tư công; ban hành lịch giải ngân theo tháng cho 29.814 tỷ đồng kế hoạch năm | UBND tỉnh Tây Ninh | Bộ Tài chính | Quý II/2026 |
7 | An Giang triển khai 183.000 ha lúa chất lượng cao năm 2026, kèm hệ thống MRV để tham gia thị trường carbon; hoàn thành Đề án trung tâm kinh tế biển quốc gia trình Thủ tướng | UBND tỉnh An Giang | Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ KH&CN | Quý I–II/2026 |
8 | Bộ Tài chính sớm ban hành hướng dẫn phân bổ vốn theo kết quả đầu ra; điều chuyển vốn dự án không có khả năng giải ngân sang dự án có nhu cầu bổ sung | Bộ Tài chính | Bộ Xây dựng, các địa phương | 04–05/2026 |
9 | Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp các địa phương rà soát hoàn thành quy hoạch các mỏ nguyên vật liệu (đá, cát, đất) trong quý II/2026; thu hồi mỏ sai phạm | Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng | UBND các tỉnh, thành phố | Quý II/2026 |
10 | Triển khai mô hình "cửa khẩu thông minh" Móng Cái – Đông Hưng (Quảng Ninh) và mở rộng tới các cửa khẩu Tây Ninh (Tân Nam, Mộc Bài, Xa Mát, Bình Hiệp) | UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND tỉnh Tây Ninh | Bộ Tài chính (Hải quan), Bộ Quốc phòng (Biên phòng) | 06/2026 |
Yêu cầu Chủ tịch UBND cấp tỉnh báo cáo trực tiếp 5 chỉ tiêu cứng: tỷ lệ giải ngân đầu tư công đến 30/4, dự kiến đến 30/6; số dự án trọng điểm đã/chưa khởi công; số dự án tồn đọng đã xử lý; mức độ hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền 02 cấp; tăng trưởng GRDP dự kiến quý II.
Áp dụng nguyên tắc "6 rõ" (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả) cho từng nhóm kiến nghị.
Gắn kết quả giải ngân với đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 23/4/2026.
Yêu cầu các Bộ trả lời thẳng đối với các kiến nghị có địa chỉ rõ (sửa NĐ 37/2015, hướng dẫn Luật Đất đai 2024, cơ chế chỉ định thầu, vốn IBRD ĐBSCL, Khu thương mại tự do Đồng Nai), tránh tình trạng "chuyển tiếp văn bản".
Định kỳ kiểm tra hằng tháng đối với 12 vấn đề CAO ở Mục IV; cấp tỉnh báo cáo trước ngày 05 hằng tháng, Văn phòng Chính phủ tổng hợp trước ngày 10.
Xử lý linh hoạt số liệu GRDP Quảng Ninh giữa Cục Thống kê và UBND tỉnh để tránh chênh lệch khi báo cáo Quốc hội tại kỳ họp giữa năm 2026.
Số liệu GRDP quý I/2026 của Quảng Ninh. Cục Thống kê công bố 9,81% (đứng thứ 6 cả nước) trong khi UBND tỉnh ước tăng 12,08–12,10% (đạt kịch bản). Cần đề nghị Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chính thức và phối hợp Sở Tài chính tỉnh thống nhất phương pháp tính trước khi báo cáo Quốc hội kỳ họp giữa năm.
Số liệu GRDP quý I/2026 của An Giang sau hợp nhất. Báo cáo công khai mới ghi nhận chi tiết khu vực nông nghiệp (lúa Đông Xuân 7,8 tấn/ha, sản lượng vụ trên 3 triệu tấn) và du lịch (8,2 triệu lượt khách, 21.432 tỷ đồng); chưa có công bố GRDP tổng. Cần xác minh trước khi đưa vào báo cáo chính thức.
Tiến độ chi tiết khởi công 03 KCN Đồng Nai ngày 09/5/2026. Cần cập nhật vào sáng 09/5 để đưa vào nội dung làm việc của Thủ tướng nếu trùng tuần làm việc.
Lịch và nội dung làm việc cụ thể của Thủ tướng với từng địa phương trong tuần 11/5–17/5/2026. Hiện chưa có công bố công khai chi tiết; báo cáo này được xây dựng trên giả định Thủ tướng làm việc với toàn bộ 07 địa phương, một địa phương hoặc theo cụm vùng.
Tình hình giá xăng dầu, vật liệu xây dựng và xung đột Trung Đông trong nửa đầu tháng 5/2026 ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí thi công sân bay Long Thành, các dự án giao thông trọng điểm và 15 doanh nghiệp xuất khẩu Trung Đông tại Hải Phòng.
Kết quả họp ngày 04/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về sân bay Long Thành. Cần văn bản kết luận chính thức để cập nhật ngay vào kiến nghị Mục VI nếu có thay đổi mốc khai thác.
Tiến độ sửa đổi Nghị định số 37/2015/NĐ-CP. Đây là kiến nghị chung của ít nhất 5/7 địa phương; cần xác minh dự thảo đang ở khâu nào để Thủ tướng có chỉ đạo cụ thể.
Đồng Nai chưa hoàn tất công bố báo cáo KT-XH quý I sau hợp nhất với Bình Phước (cấu phần Bình Phước cũ). Cần bổ sung khi có số liệu chính thức của Cục Thống kê.
Vấn đề lao động phổ thông tại các khu công nghiệp Quảng Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai, Tây Ninh cần khảo sát định lượng (tỷ lệ thiếu hụt theo ngành) để có chính sách hỗ trợ đào tạo phù hợp.
Việc thí điểm xử lý dự án tại 5 địa phương theo Kết luận số 77-KL/TW đã được Thủ tướng đánh giá là "có hiệu quả, cần mở rộng dần"; cần làm rõ 7 địa phương trong báo cáo này có nằm trong nhóm thí điểm mở rộng hay không.
Thực trạng đất đá thải mỏ Quảng Ninh. Đề nghị giải pháp tổng thể của Bí thư Tỉnh ủy Quản Minh Cường cần được Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng thẩm định và đưa ra hướng dẫn dùng làm vật liệu san lấp cho các dự án vùng đồng bằng sông Hồng.
Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh đang được tổng kết Nghị quyết 31-NQ/TW; tiến độ trình Quốc hội cần xác định rõ.
Đề án phát triển An Giang trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia phải hoàn thành trình Thủ tướng trong quý I/2026. Cần xác minh đã trình hay chưa.
Số liệu chuẩn về sản lượng lúa An Giang 2026 giữa các nguồn báo cáo khác nhau (1,3 triệu ha với 8,8 triệu tấn cho năm 2025; 503.563 ha vụ Đông Xuân 2025–2026; mục tiêu 183.000 ha lúa chất lượng cao năm 2026). Cần Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh phối hợp Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thống nhất.
Tình hình giá lúa gạo xuất khẩu đã được báo chí nêu nghịch lý "giá ấm nhưng nông dân và doanh nghiệp chưa có lãi" (Dân Việt, 22/4/2026). Cần Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá định lượng độ co giãn lợi nhuận theo chi phí đầu vào để có chính sách hỗ trợ kịp thời.
Đối chiếu chéo các văn bản pháp lý. Bảy văn bản số hiệu trong Mục V (gồm Nghị quyết số 258/QH15, Nghị quyết số 318/NQ-HĐND Quảng Ninh, Nghị quyết số 45/NQ-HĐND Tây Ninh, Quyết định số 30/2025/QĐ-UBND Đồng Nai, Công văn số 5510/UBND-KTNS, Công văn số 3026/UBND-KTNS, Chỉ thị số 54-CT/TW) cần được đối chiếu lần cuối với cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia (vbpl.vn, congbao.chinhphu.vn, thuvienphapluat.vn) trước khi nhân bản để báo cáo Thủ tướng. Ngày ban hành cụ thể của Nghị quyết số 226/2025/QH15 cũng cần xác minh trên công báo.
Tổ chức Bộ và đơn vị thống kê sau cải cách 2025. Bộ Tài chính đã tiếp nhận chức năng thống kê quốc gia từ ngày 01/3/2025; cấp tỉnh tổ chức theo mô hình Chi cục Thống kê. Khi đối chiếu số liệu giữa Cục Thống kê (Bộ Tài chính) và Sở Tài chính/Chi cục Thống kê các địa phương, cần lưu ý phương pháp tính có thể đang trong giai đoạn chuẩn hóa.
Đầu mối Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực năng lượng và Nhà máy nhiệt điện LNG Long An I, II. Báo cáo cập nhật theo công bố tháng 12/2025 (Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn được giao chủ trì xử lý). Trước buổi làm việc của Thủ tướng, cần xác minh phân công Phó Thủ tướng phụ trách hiện tại để cập nhật chính xác trong tài liệu trình./.
Báo cáo chuyên đề được tổng hợp trên cơ sở Nghị quyết, văn bản chỉ đạo điều hành và báo cáo công khai của Trung ương, các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trong giai đoạn từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026; kết hợp đối chiếu chéo các báo cáo Cục Thống kê, các báo cáo phiên họp HĐND và UBND cấp tỉnh, các thông cáo báo chí phiên họp Chính phủ thường kỳ. Mọi số liệu, văn bản số hiệu, mốc thời gian và đầu mối được trích dẫn đều có nguồn công khai cùng thời điểm soạn thảo. Đối với 02 nội dung chưa có công bố thống nhất (số liệu GRDP Q1 Quảng Ninh; số liệu GRDP Q1 An Giang sau hợp nhất), báo cáo đã ghi rõ tại Mục VII để tiếp tục theo dõi và bổ sung. Đối với các kết luận có mức độ rủi ro CAO tại Mục IV, đã thực hiện đối chứng với nguồn báo chí kinh tế độc lập (gồm VnEconomy, Báo Đấu thầu, Báo Đầu tư, Tin nhanh chứng khoán, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong, Báo Tài chính); không phát hiện chứng cứ phản biện vật chất làm thay đổi mức độ rủi ro. Tài liệu phục vụ nội bộ; không phổ biến rộng./.